Đáp Ca


Bản dịch do Nhóm Giờ Kinh Phụng Vụ Việt Nam


(Tv 22:1-6) Lạy Chúa, Ngài nỡ ḷng ruồng bỏ con sao?

(2) Lạy Chúa con thờ, muôn lạy Chúa,
Ngài nỡ ḷng ruồng bỏ con sao?
Dù con thảm thiết kêu gào,
nhưng ơn cứu độ nơi nao xa vời!

(3) Ngày kêu Chúa, không lời đáp ứng,
đêm van Ngài mà cũng chẳng yên.
(4) Thế nhưng Chúa ngự nơi đền,
vinh quang của Ít-ra-en là Ngài.

(5) Xưa tổ phụ vẫn hoài cậy Chúa,
họ cậy trông, Ngài đă độ tŕ,
(6) van nài liền được cứu nguy,
đă không thất vọng mỗi khi cậy Ngài.


(Tv 23:1-6) CHÚA chăn dắt tôi, tôi chẳng thiếu thốn ǵ.

CHÚA là mục tử chăn dắt tôi, tôi chẳng thiếu thốn ǵ.
(2) Trong đồng cỏ xanh tươi, Người cho tôi nằm nghỉ.
Người đưa tôi tới ḍng nước trong lành
(3) và bổ sức cho tôi.
Người dẫn tôi trên đường ngay nẻo chính
v́ danh dự của Người.

(4) Lạy Chúa, dầu qua lũng âm u
con sợ ǵ nguy khốn, v́ có Chúa ở cùng.
Côn trượng Ngài bảo vệ, con vững dạ an tâm.

(5) Chúa dọn sẵn cho con bữa tiệc ngay trước mặt quân thù.
Đầu con, Chúa xức đượm dầu thơm,
ly rượu con đầy tràn chan chứa.

(6) Ḷng nhân hậu và t́nh thương CHÚA
ấp ủ tôi suốt cả cuộc đời,
và tôi được ở đền Người
những ngày tháng, những năm dài triền miên.


(Tv 24:6-10) Chúa là Chúa Tể càn khôn: chính Người là Đức Vua vinh hiển

(6) Đây chính là ḍng dơi những kẻ kiếm t́m Người,
t́m thánh nhan Thiên Chúa nhà Gia-cóp.
(7) Hỡi cửa đền, hăy cất cao lên,
cao lên nữa, hỡi cửa đền cổ kính,
để Đức Vua vinh hiển ngự vào.

(8) Đức Vua vinh hiển đó là ai?
Là ĐỨC CHÚA mạnh mẽ oai hùng
ĐỨC CHÚA oai hùng khi xuất trận.

(9) Hỡi cửa đền, hăy cất cao lên,
cao lên nữa, hỡi cửa đền cổ kính,
để Đức Vua vinh hiển ngự vào.
(10) Đức Vua vinh hiển đó là ai?
Là Chúa Tể càn khôn: chính Người là Đức Vua vinh hiển.


(Tv 26:1,4,7-12) Xin giải thoát và xót thương con, lạy Chúa

Lạy CHÚA, xin Ngài xử cho con, v́ con sống vẹn toàn.
Con tin tưởng vào CHÚA, không do dự.
(4) Con không ngồi chung với quân xảo trá,
chẳng giao du cùng bọn giả h́nh,
(7) để hát bài cảm tạ tri ân
và tường thuật mọi kỳ công của Ngài.

(8) Lạy CHÚA, con mến yêu ngôi nhà Chúa ngự,
mến yêu nơi rạng ngời vinh quang Chúa.
(9) Xin đừng bắt con đồng số kiếp với tội nhân,
chung vận mạng với phường khát máu.
(10) Tay chúng gây tội ác tầy trời,
riêng tay mặt đầy quà hối lộ.

(11) Phần con đây, con sống vẹn toàn,
xin giải thoát và xót thương con, lạy Chúa,
(12) trên mặt đất bằng, chân con đứng vững,
giữa ḷng đại hội, con xin chúc tụng Ngài.


(Tv 25:6-7,17-18,20-21) Xin Chúa thấy cho cảnh lầm than khổ cực và tha thứ hết mọi tội con.

(6) Lạy CHÚA, xin nhớ lại nghĩa nặng với ân sâu
Ngài đă từng biểu lộ từ muôn thuở muôn đời.

(7) Tuổi xuân trót dại bao lầm lỗi, xin Ngài đừng nhớ đến,
nhưng xin lấy t́nh thương mà nhớ đến con cùng.
(17) Ḷng đau như thắt, xin làm cho thanh thoả,
và giải thoát con khỏi bước ngặt nghèo.

(18) Xin Chúa thấy cho cảnh lầm than khổ cực
và tha thứ hết mọi tội con.
(20) Xin bảo toàn sinh mạng và giải thoát con,
đừng để con tủi nhục, bởi v́ con ẩn náu bên Ngài.

(21) Ước ǵ ḷng trong sạch và ngay thẳng
che chở giữ ǵn con, v́ con trông cậy Chúa.


(Tv 42:2-3,43:3-4) Linh hồn con khao khát Chúa, là Chúa Trời hằng sống.

(2) Như nai rừng mong mỏi t́m về suối nước trong,
hồn con cũng trông mong được gần Ngài, lạy Chúa.
(3) Linh hồn con khao khát Chúa Trời, là Chúa Trời hằng sống.
Bao giờ con được đến vào bệ kiến Tôn Nhan?

(3) Xin Ngài thương sai phái ánh sáng và chân lư của Ngài,
để soi đường dẫn lối con đi về núi thánh, lên đền Ngài ngự.

(4) Con sẽ bước tới bàn thờ Thiên Chúa,
tới gặp Thiên Chúa, nguồn vui của ḷng con.
Con gảy đàn dâng câu cảm tạ,
lạy Chúa là Thiên Chúa con thờ.


(Tv 62) Nhờ Thiên Chúa, tôi được cứu độ và vinh quang.

(2) Chỉ trong Thiên Chúa mà thôi,
hồn tôi mới được nghỉ ngơi yên hàn.
Ơn cứu độ tôi bởi Người mà đến,
(3) duy Người là núi đá, là ơn cứu độ của tôi,
là thành luỹ chở che: tôi chẳng hề nao núng.

(4) Tới bao giờ các ngươi c̣n xúm lại
để xông vào quật ngă một người?
Hắn đă như bức tường xiêu đổ,
như hàng rào đến lúc ngả nghiêng.
(5) Con người ấy, chúng chỉ mưu hạ bệ,
chúng thoả ḷng v́ đă nói dối nói gian.
Miệng th́ chúc phúc cầu an,
mà ḷng nguyền rủa chứa chan những lời.

(6) Chỉ trong Thiên Chúa mà thôi,
này hồn tôi hăy nghỉ ngơi yên hàn.
V́ hy vọng của tôi bởi Người mà đến,
(7) duy Người là núi đá, là ơn cứu độ của tôi,
là thành luỹ chở che: tôi chẳng hề nao núng.

(8) Nhờ Thiên Chúa, tôi được cứu độ và vinh quang,
Người là núi đá vững vàng,
ở bên Thiên Chúa tôi hằng ẩn thân.
(9) Hỡi dân ta, hăy tin tưởng vào Người luôn măi,
trước mặt Người, hăy thổ lộ tâm can:
Thiên Chúa là nơi ta ẩn náu.

(10) Kẻ thường dân âu chỉ là hơi thở,
người quyền quư đều ví tựa ảo huyền,
đứng cả lên cân cũng chẳng tày mây khói.
(11) Đừng tin tưởng ở tṛ áp bức nữa,
chớ hoài công cậy ngón bóc lột người!
Tiền tài dẫu sinh sôi nảy nở,
ḷng chẳng nên gắn bó làm chi.

(12) Lạy Thiên Chúa, một lần Ngài phán dạy,
con nghe được hai điều,
rằng: Ngài nắm quyền uy
(13) và giàu ḷng nhân hậu;
rằng: Ngài theo tội phúc mà thưởng phạt mỗi người.


(Tv 63:2-6,8-9) Lạy Thiên Chúa, Ngài là Chúa con thờ, ngay từ rạng đông con t́m kiếm Chúa.

(2) Lạy Thiên Chúa, Ngài là Chúa con thờ,
ngay từ rạng đông con t́m kiếm Chúa.
Linh hồn con đă khát khao Ngài,
tấm thân này ṃn mỏi đợi trông,
như mảnh đất hoang khô cằn, không giọt nước.

(3) Nên con đến ngắm nh́n Ngài trong nơi thánh điện,
để thấy uy lực và vinh quang của Ngài.
(4) Bởi ân t́nh Ngài quư hơn mạng sống,
miệng lưỡi này xin ca ngợi tán dương.

(5) Suốt cả đời con, nguyện dâng lời chúc tụng,
và giơ tay cầu khẩn danh Ngài.
(6) Ḷng thoả thuê như khách vừa dự tiệc,
môi miệng con rộn ră khúc hoan ca.

(8) Quả thật Ngài đă thương trợ giúp,
nương bóng Ngài, con hớn hở reo vui.
(9) Trót cả tâm t́nh, con cùng Ngài gắn bó,
giơ tay quyền lực, Ngài che chở phù tŕ.


(Tv 102) Lạy CHÚA, xin nghe lời con cầu khẩn.

(2) Lạy CHÚA, xin nghe lời con cầu khẩn,
tiếng con kêu, mong được thấu tới Ngài.
(3) Buổi con gặp gian truân, xin Ngài đừng ẩn mặt,
trong ngày con cầu cứu, xin Ngài lắng tai nghe
và mau mau đáp lời.

(4) V́ đời con: tháng ngày tan thành khói,
xương tuỷ nóng ran như hoả ḷ.
(5) Tim héo hắt tựa hồ cỏ giập,
nên chẳng c̣n tưởng đến miếng ăn.
(6) V́ con những kêu gào rên rẩm
mà thân thể chỉ c̣n da bọc xương.

(7) Con chẳng khác bồ nông miền sa mạc,
tựa như cú vọ chốn hoang tàn.
(8) Suốt năm canh trằn trọc,
phận như chim lạc đàn đậu mái hiên.

(9) Quân thù địch cả ngày phỉ báng,
giận điên lên, chúng nguyền rủa thân này.
(10) Ăn tro trấu đă thành cơm bữa,
nước mắt hoà nước uống thường khi.
(11) V́ Chúa nổi trận lôi đ́nh, ra oai nộ khí,
nhấc con lên, rồi quẳng ra xa.

(12) Ngày tháng đời con: chiều tà bóng ngả,
tấm thân này: cỏ úa vàng khô.
(13) Nhưng lạy CHÚA, muôn đời Ngài ngự trị,
trải bao thế hệ, thiên hạ nhắc đến Ngài.
(14) Chính Ngài sẽ đứng dậy và thương xót Xi-on,
v́ nay đă đến thời thi ân giáng phúc.

(15) Bề tôi Ngài lưu luyến đá tường thành sụp đổ,
ḷng những xót xa nh́n đống tro tàn.
(16) Bấy giờ chư dân sẽ sợ uy danh CHÚA,
mọi đế vương hoàn cầu uư kính Ngài vinh hiển.
(17) V́ CHÚA sẽ xây dựng lại Xi-on,
sẽ xuất hiện quang vinh rực rỡ.
(18) Người đoái nghe dân bị bóc lột kêu cầu,
chẳng khinh thường lời họ nguyện xin.

(19) Điều này phải ghi lại cho đời sau được biết,
dân hậu sinh phải ca tụng CHÚA TRỜI
(20) V́ CHÚA đưa mắt từ toà cao thánh điện,
từ trời xanh đă nh́n xuống cơi trần,
(21) để nghe kẻ tù đày rên siết thở than
và phóng thích những người mang án tử.

(22) Rồi ra, ở Xi-on, người người sẽ rao truyền danh thánh CHÚA,
tại Giê-ru-sa-lem, ai nấy ngợi khen Người,
(23) khi mọi nước mọi dân
tập trung về để thờ phượng CHÚA.
(24) Chúa làm tôi kiệt lực giữa đường đời,
tuổi thọ tôi, Người rút ngắn lại.

(25) Con nói: lạy Thiên Chúa của con,
Ngài là Đấng vạn đại trường tồn,
xin đừng cất mạng con giữa cuộc đời dang dở.
(26) Xưa Chúa đă đặt nền trái đất,
chính tay Ngài tạo tác ṿm trời.
(27) Chúng tiêu tan, Chúa c̣n hoài,
chúng như áo cũ thảy rồi ṃn hao.
Ngài thay chúng khác nào thay áo,
(28) nhưng chính Ngài tiền hậu y nguyên;
tháng năm Ngài vẫn triền miên.
(29) Con cháu bề tôi sẽ an cư lạc nghiệp,
và ḍng giống tồn tại trước nhan Ngài.


(Tv 103:8,10,13-18) Đấng từ bi nhân hậu, Người chậm giận và giàu t́nh thương,

(8) CHÚA là Đấng từ bi nhân hậu,
Người chậm giận và giàu t́nh thương,
(10) Người không cứ tội ta mà xét xử,
không trả báo ta xứng với lỗi lầm.

(13) Như người cha chạnh ḷng thương con cái,
CHÚA cũng chạnh ḷng thương kẻ kính tôn.
(14) Người quá biết ta được nhồi nắn bằng ǵ,
hẳn Người nhớ: ta chỉ là cát bụi.

(15) Kiếp phù sinh, tháng ngày vắn vỏi,
tươi thắm như cỏ nội hoa đồng,
(16) một cơn gió thoảng là xong,
chốn xưa ḿnh ở cũng không biết ḿnh.

(17) Nhưng ân t́nh CHÚA thiên thu vạn đại,
dành cho kẻ nào hết dạ kính tôn.
Người xử công minh cả với đời con cháu,
(18) cả những ai giữ giao ước của Người
và nhớ tuân hành mệnh lệnh Người ban.


(Tv 121) Ơn phù hộ tôi đến từ ĐỨC CHÚA là Đấng dựng nên cả đất trời.

Tôi ngước mắt nh́n lên rặng núi,
ơn phù hộ tôi đến tự nơi nao?
(2) Ơn phù hộ tôi đến từ ĐỨC CHÚA
là Đấng dựng nên cả đất trời.

(3) Xin Đấng ǵn giữ bạn đừng để bạn lỡ chân trật bước,
xin Người chớ ngủ quên.
(4) Đấng ǵn giữ Ít-ra-en,
lẽ nào chợp mắt ngủ quên cho đành!

(5) Chính CHÚA là Đấng canh giữ bạn,
chính CHÚA là Đấng vẫn chở che,
Người luôn luôn ở gần kề.
(6) Ngày sáu khắc, vầng ô không tác hoạ,
đêm năm canh, vành nguyệt chẳng hại chi.

(7) CHÚA giữ ǵn bạn khỏi mọi điều bất hạnh,
giữ ǵn cho sinh mệnh an toàn.
(8) CHÚA giữ ǵn bạn lúc ra vào lui tới,
từ giờ đây cho đến măi muôn đời.


(Tv 130:1-8) Muôn lạy Chúa, xin Ngài nghe tiếng con.

Từ vực thẳm, con kêu lên Ngài, lạy CHÚA,
(2) muôn lạy Chúa, xin Ngài nghe tiếng con.
Dám xin Ngài lắng tai để ư
nghe lời con tha thiết nguyện cầu.

(3) Ôi lạy CHÚA, nếu như Ngài chấp tội,
nào có ai đứng vững được chăng?
(4) Nhưng Chúa vẫn rộng ḷng tha thứ
để chúng con biết kính sợ Ngài.

(5) Mong đợi CHÚA, tôi hết ḷng mong đợi,
cậy trông ở lời Người.
(6) Hồn tôi trông chờ Chúa,
hơn lính canh mong đợi hừng đông.
Hơn lính canh mong đợi hừng đông,

(7) trông cậy CHÚA đi, Ít-ra-en hỡi,
bởi CHÚA luôn từ ái một niềm,
ơn cứu chuộc nơi Người chan chứa.
(8) Chính Người sẽ cứu chuộc Ít-ra-en
cho thoát khỏi tội khiên muôn vàn.